Nhóm cá lóc cỡ nhỏ

Có khoảng hơn 10 loài trong nhóm này mà chỉ vài trong số chúng là khá hiếm trên thị trường cá cảnh, chẳng hạn như các loài Channa asiatica, Channa sp. Kerala có 5 sọc và Channa sp. Himalaya, loài cá lóc ở những vùng thấp ở Himalaya và thuộc nhóm stewarti.

Channa bleheri, Channa sp. Kerala, Channa sp. Himalaya, Channa stewarti và Channa sp. Assam là những loài cá lóc đặc hữu ở lưu vực sông Brahmaputra River vùng Assam, Ấn Độ. Chúng phân bố ở những vùng thấp của Himalaya, nơi mà nhiệt độ mùa đông khoảng từ 16 đến 18 độ C; chúng thích hợp với khí hậu cận nhiệt đới. Vào mùa hè, nhiệt độ thông thường là từ 26 đến 28 độ C và có thể lên đến 30 độ C hay cao hơn ở những vùng nước nông. Cá lóc có bộ phận hô hấp đặc biệt để thích ứng với điều kiện môi trường nêu trên.

Loài Channa bleheri đạt kích thước tối đa 15 cm và Channa sp. Assam đạt kích thước tối đa 12 cm nên có thể nuôi trong hồ có kích thước nhỏ. Hồ nên trồng thực vật thủy sinh và bố trí hang hốc. Cả hai loài trên đều hiền lành và có thể cho đẻ trong hồ nuôi. Để kích thích cá đẻ, chỉ cần thay nước thường xuyên là được. Chúng ta có thể phân biệt giới tính những loài này. Ở loài Channa sp. Assam, vây lưng con đực xanh hơn và có ít đốm đỏ hơn ở con cái. Nếu nhìn từ trên xuống thì mang của con đực phình to hơn con cái và điều này cũng đúng với loài Channa bleheri. Dù hai loài này trông rất rống nhau nhưng chúng thực sự là hai loài khác biệt. Channa bleheri không tạo ổ bọt mà giữ trứng của chúng thành một bè; trong khi Channa sp. Assam là loài ấp miệng. Chúng cũng thường được gọi bằng tên khác là “blue bleheri” để dễ bán bởi vì loài Channa bleheri là một trong số những loài cá lóc đắt tiền nhất.

Loài Channa bleheri.

Loài Channa sp. Assam.

Loài Channa sp. Himalaya, thuộc nhóm loài stewarti, phân bố ở vùng Alipur Duar, tây Bengal. Chúng dù không phải là loài ăn tạp điển hình nhưng cũng ăn cả côn trùng và các loài giáp xác ở những vùng nước nông. Một cặp cá giống thường được hình thành và chọn lọc từ một nhóm cá. Những nhà lai tạo Đức đã sinh sản thành công loài này trong hồ nuôi. Chúng là loài ấp miệng; đặc biệt tốc độ sinh trưởng của cá con rất nhanh.

Loài Channa sp. Himalaya.

Loài Channa sp. Kerala 5 sọc phân bố ở những vùng trũng ở dãy núi Himalaya có kích thước tối đa 20 cm. Chúng là loài ấp miệng; con đực ấp cá con trong miệng giống như ở loài Channa sp. Himalaya. Chúng chịu ăn thức ăn đông lạnh và khá hiền lành.

Loài Channa sp. Kerala 5 sọc.

Loài Channa gachua là loài phân bố rộng nhất trong nhóm cá lóc kích thước nhỏ. Chúng phân bố ở khắp vùng châu Á đến tận Trung Đông và đảo Bali. Kích thước tối đa từ 12 đến 25 cm tùy theo dạng đặc trưng ở mỗi vùng. Kích thước hồ nuôi tối thiểu cho loài này là 100 cm x 40 cm x 40 cm, nhiệt độ nước 25 độ C. Thật ngạc nhiên là dạng nhỏ của loài này như ở hồ Inle lại hung dữ nhất. Bởi vì có quá nhiều dạng nên chẳng thể căn cứ vào đặc điểm bên ngoài của một cá thể để xác định xuất xứ của nó. Điều đáng buồn là những thông tin như vậy lại không được lưu tâm đúng mức bởi các nhà kinh doanh cá cảnh. Các dạng khác nhau của loài này đều có khác biệt gen ít nhiều; do vậy hy vọng trong thời gian sắp tới, các nhà khoa học sẽ nghiên cứu và sắp xếp lại chúng, từ đó xác định thêm những loài mới. Điều hết sức đáng ngạc nhiên đó là Channa gachua là loài cá lóc duy nhất thực sự bò bằng vây ngực.

Loài Channa gachua.

Loài Channa harcourtbutleri đặc hữu ở Miến Điện. Loài này có bề ngoài tương tự như loài Channa gachua.

Loài Channa orientalis là loài đặc hữu ở đảo Sri Lanka. Loài này không có vây bụng và là loài ấp miệng. Trong các tài liệu cũ, người ta cho rằng loài này bao gồm hai dạng, có và không có vây bụng; bây giờ thì chúng ta biết rằng loài Channa orientalis chỉ có một dạng duy nhất không có vây bụng; còn dạng có vây bụng thực ra là loài Channa gachua ở đảo Sri Lanka.

Loài Channa orientalis đặc hữu ở đảo Sri Lanka (nguồn http://fisc.er.usgs.gov).

Loài Channa stewarti ở vùng Assam có kích thước tối đa 25cm. Loài này có nhiều biến thể địa phương và thường bị nhầm lẫn với loài có kích thước lớn hơn là Channa aurantimaculata. Chúng là loài ấp miệng, cách thức sinh sản giống như ở loài Channa sp. Himalaya.

Loài Channa stewarti.

Loài Channa asiatica phân bố ở Trung Quốc và Việt Nam, có kích thước tối đa 30cm. Chúng cũng có thể được chăm sóc như loài cá cảnh cận nhiệt đới. Channa asiatica là một trong số ít loài không có vây bụng. Đây là loài rất được ưa chuộng bởi màu sắc nổi trội của chúng.

Loài Channa asiatica (nguồn www.fishbase.org).

Loài Channa nox ở miền Nam Trung Quốc. Loài này có bề ngoài tương tự như loài Channa asiatica.

Loài Channa punctata phân bố ở Ấn Độ, Sri Lanka và Trung Quốc với kích thước tối đa 30 cm. Chúng cũng được phát hiện ở vùng có khí hậu cận nhiệt đới Assam. Đây là loài cá lóc phổ biến nhất trên thị trường cá cảnh. Các chấm đỏ thường xuất hiện ở cá non rồi sau đó biến mất ở những cá thể trưởng thành. Chúng có thể được chăm sóc như là loài cá cảnh nhiệt đới. Những cá thể trưởng thành thường rất nặng; phương thức sinh sản của chúng cũng tương tự như các loài cá lóc khác.

Loài Channa punctata (nguồn www.aquarticles.com).

Loài Channa panaw đặc hữu ở Miến Điện. Loài này có bề ngoài tương tự như loài Channa punctata.

Loài Channa lucius phân bố ở Indonesia, Malaysia và Việt Nam. Loài này thực sự rất đẹp với cái đầu rất nhọn. Chúng có thể thay đổi màu sắc rất nhanh mỗi khi bị hoảng hốt. Kích thước tối đa của loài này là 25 cm và những con to hơn thường là bị nhầm với một loài khác trông cũng tương tự là loài Parachanna insignis.

Loài Channa lucius. (Hình trên) Cá thể trưởng thành. (Hình dưới) Cá thể non. (Nguồn http://fisc.er.usgs.gov).

Còn một số cá lóc cỡ nhỏ khác như Channa amphibeus ở Bắc Ấn và Bhutan, Channa bankanensis, Channa cyanospilos ở Indosia và Malaysia và Channa baramensis ở Borneo nhưng thông tin và hình ảnh về chúng còn rất hạn chế. Hy vọng, chúng tôi có thể cập nhật thông tin về những loài này trong tương lai.