Nhóm cá lóc cỡ lớn
Với các loài thuộc nhóm này, hồ nuôi cần phải thật lớn. Một con thôi cũng cần hồ dài cỡ 2 m để chúng có thể bơi thoải mái. Một vấn đề nữa là khả năng bị thương, không phải là con cá mà là… người nuôi. Ai từng thấy hàm răng lởm chởm của một con cá lóc bông Channa micropeltes dài cả mét hay từng di chuyển chúng từ hồ này sang hồ khác sẽ hiểu rõ điều này. Hồ nuôi cá lóc cỡ lớn cũng cần nắp đậy thật nặng, nhất là với hồ nuôi một cặp. Đôi khi, con cá yếu hơn có thể cố gắng thoát ra khỏi hồ và nhảy thẳng lên đụng vào nắp hồ. Cách an toàn nhất là sử dụng nắp gỗ có dán tấm plastic dày. Không nên trồng các loại thực vật thủy sinh thông thường mà phải là các loại thủy sinh to và mạnh mẽ như Java fern và anubias để đính lên các khúc rễ cây hay trồng chúng trong các chậu đất. Các loại thực vật nổi hay rong nhựa cũng có tác dụng làm cho cá bớt căng thẳng. Nên sử dụng bộ lọc tràn với máy bơm và thùng lọc đặt bên ngoài hồ để tránh cá cắn phá và đảm bảo an toàn cho người nuôi mỗi khi phải làm vệ sinh hồ.Loài Channa barca phân bố ở lưu vực sông Brahmaputra, phía bắc vùng Assam, Ấn Độ. Đây là loài rất hiếm trên thị trường cá cảnh và cả ngoài môi trường tự nhiên. Người ta mới chỉ thấy hình của chúng gần đây thôi; trong nhiều năm trời, chúng thường bị nhầm với các loài thuộc nhóm stewarti hay với loài mà ngày nay được biết là Channa aurantimaculata. Loài Channa barca có thể đạt đến kích thước 90cm với màu xanh và những đốm nhỏ đặc trưng; đặc biệt vây lưng của chúng rất cao. Những người đánh cá địa phương đôi khi bắt gặp chúng nằm trên bờ bởi chúng thường nhảy lên bờ để kiếm ăn. Được biết, chúng ăn loài gián trú ngụ trên một số loài cây địa phương. Điều này làm cho loài Channa barca là một trong số những loài cá kỳ lạ nhất. (Đặc điểm này làm chúng ta liên tưởng đến câu thành ngữ "cá ăn kiến, kiến ăn cá" phổ biến ở Việt Nam. Tuy nghĩa đen của nó là "có vay có trả" nhưng cũng phản ánh một hiện tượng thực tế. Mùa mưa nước lên động ổ kiến thì cá ăn kiến, mùa khô nước rút, cá bị kẹt và chết thì kiến lại ăn cá. Con cá này là cá lóc tuy không rõ là loài nào, cá lóc bố mẹ thường nhảy lên ổ kiến để kiến bám vào rồi nhảy xuống nước cho cá con ăn). Loài Channa barca hiếm đến nỗi chẳng mấy người địa phương từng thấy chúng mà chủ yếu được nghe những người lớn tuổi kể lại. Ở Thái Lan có một mẫu vật của loài này dài 40 cm được ngâm trong cồn để nghiên cứu khoa học. Giá gốc của mỗi con cá ở địa phương là 600 đô la, còn nếu tính thêm những chi phí khác như phí chuyên chở và tiền lời thì giá bán lẻ ở những nơi khác trên thế giới chắc chắn còn cao hơn rất nhiều. Hiển nhiên đây là loài cá lóc được mọi người thèm khát nhất nhưng kích thước lớn và tập quán ăn mồi khác biệt của chúng là rào cản trong việc nuôi dưỡng và cho chúng sinh sản đối với người nuôi cá bình thường. Hy vọng là những hiểu biết ngày càng nhiều của chúng ta về loài này sẽ giúp vượt qua các trở ngại đó.
Loài Channa barca (nguồn www.tomhalvorsen.co.uk).
Loài Channa marulioides rất đẹp xuất xứ từ Indonesia và có thể đạt đến kích thước 70 cm. Chúng rất hiền nên có thể nuôi theo nhóm nhưng phải đảm bảo hồ đủ rộng. Loài này cũng khó cho sinh sản trong hồ vì kích thước của chúng khá lớn.
Loài Channa marulioides (nguồn www.snakeheads.org).
Loài Channa marulius xuất xứ từ Ấn Độ và trông tương tự với loài Channa marulioides. Thực ra, cái tên marulioides có nghĩa là "giống như marulius". Rất khó phân biệt hai loài này khi chúng chưa trưởng thành. Cách chính xác nhất để phân biệt chúng là đếm số vảy trên đường bên và số gai trên vây. Cũng có thể căn cứ vào nguồn gốc xuất xứ từ Indonesia hay Ấn Độ để phân biệt chúng. Loài này có thể đem so sánh với loài Channa micropeltes với kích thước tối đa lên đến 120 cm. Chúng là loài hung dữ, không chấp nhận bất kỳ cá thể nào khác cùng hồ, kể cá các cá thể cùng loài. Nhiều người nuôi loài này bị cắn khi thay nước; hầu hết là bởi các cá thể có kích thước dưới 60 cm nhưng chưa có trường hợp nghiêm trọng nào được ghi nhận. Điều này cũng dễ hiểu bởi không mấy người có hồ đủ lớn để nuôi các cá thể lớn hơn. Khi nuôi cá thể lớn hơn 60 cm, nước hồ cần được thay thường xuyên, khoảng 1 tuần/lần và nếu ai từng nghĩ rằng cá sẽ không bao giờ cắn mình; hãy cẩn thận vì loài này có thể gây ra những vết cắn nghiêm trọng.
Loài cá lóc bông Channa micropeltes là loài lớn và có nhiều truyền thuyết về chúng nhất. Không những nổi tiếng nhờ kích thước ngoại cỡ mà còn ở đôi mắt ma quái và cặp hàm lởm chởm răng đủ làm hoảng sợ những người yếu bóng vía. Những người câu cá đồn đại rằng có những cá thể còn lớn hơn kích thước được ghi nhận 120 cm và đạt tới 150 cm; tuy vậy chưa hề có hình ảnh hay tài liệu nào ghi nhận điều này. Những lời đồn đại không phải lúc nào cũng đúng, nhất là về bản năng săn mồi và giết chóc của chúng. Thứ nhất, chúng không hề là loài ma quái; thứ hai, bản năng săn đuổi và ăn thịt các con cá khác trong cùng hồ chính là bản năng tự nhiên của chúng. Hãy chấp nhận điều này, loài cá lóc bông nên được nuôi riêng một con hay một cặp hơn là nuôi chung với các loài cá khác. Điều đáng ngạc nhiên là chúng lại rất nhát và hay hoảng sợ trong một thời gian rất dài khi thả nuôi trong hồ cảnh. Chúng chỉ trở nên đặc biệt hung dữ khi bảo vệ bầy cá con. Những ghi nhận về việc loài này tấn công ngay cả con người khi lại gần bầy con của chúng là có thực và cần được để ý. Một cặp cá bố mẹ thật lớn có thể tạo ra các vết cắn sâu và nguy hiểm cho những người vô tình bơi ngang qua ổ của chúng.
Loài cá lóc bông Channa micropeltes. Cá non nằm ở góc dưới bên trái có màu đỏ.
Loài cá lóc đen Channa striata phân bố rộng khắp châu Á và vì vậy, chúng có rất nhiều dạng địa phương khác nhau về kích cỡ giống như ở loài Channa gachua. Rất có thể còn có nhiều loài địa phương bị gộp chung vào loài này bởi vì hiện nay chưa có các nghiên cứu khoa học đầy đủ về chúng.
Loài Channa striata (ảnh do Bùi Hữu Mạnh chụp ở Thừa Thiên-Huế)
Cuối cùng là loài Channa burmanica đặc hữu ở Miến Điện. Loài này có bề ngoài tương tự như loài Channa bleheri nhưng có kích thước lên đến trên 1m.
Nhóm này bao gồm 7 loài có kích thước từ 35 đến 60 cm. Đa số chúng đều hung dữ nên hồ nuôi phải bố trí nhiều thực vật thủy sinh. Hồ nuôi cần nắp đậy đủ mạnh để cá khỏi nhảy ra ngoài, thông thường là kính dày chừng nửa ly.
Bắt đầu với các loài thuộc chi Parachanna ở châu Phi gồm Parachanna africana, Parachanna insignis và Parachanna obscura. Chúng là các loài sơ khai hơn so với các loài họ hàng ở chi Channa. Trong nhiều năm trời người ta không sử dụng tên chi Parachanna nhưng rồi người ta dùng nó để phân biệt với các loài thuộc chi Channa ở châu Á.
Parachanna africana là loài nhỏ nhất có kích thước tối đa 35 cm, phân bố ở Tây Phi. Vào thời kỳ sinh sản, cá lên màu rất đẹp; toàn thân chuyển thành màu đen tuyền kèm theo những sọc vàng ở thân và đầu. Vây cũng đổi thành màu đen còn môi màu xanh. Sự biến đổi này làm cho chúng trở thành một trong số các loài cá lóc có màu sắc rực rỡ nhất.
Loài Parachanna africana .
Loài Parachanna insignis là loài cá lóc châu Phi lớn nhất với kích thước tối đa lên đến 60cm; chúng phân bố từ Cameroon đến Congo. Chúng trông cũng tương tự như loài Parachanna obscura nhưng có màu đậm hơn đồng thời mũi cũng dài hơn.
Loài Parachanna obscura phân bố rộng trên khắp châu Phi và là một trong số những loài cá lóc hung dữ nhất. Với kích thước tối đa 40 cm, chúng có thể được nuôi trong hồ dài 150 cm. Loài này có thể sinh sản trong môi trường hồ nuôi. Sau khi đẻ, bè trứng nổi lên mặt nước và được cá bố mẹ bảo vệ. Tránh thay nước trong thời gian cá sinh sản.
Loài Parachanna obscura .
Loài Channa aurantimaculata mới được xác định gần đây vào năm 2002. Trong nhiều năm lưu hành trên thị trường cá cảnh, chúng thường bị nhầm lẫn với các loài Channa stewarti và Channa barca. Điều này cũng thường xảy ra với các loài cá lóc khác có xuất xứ từ vùng Assam bởi vì các nhà xuất cảnh cá lóc ở Ấn Độ thường không lưu tâm đến các thông tin về xuất xứ và chủng loại cá. Channa aurantimaculata là một trong những loài cá lóc đẹp nhất, đạt kích thước tối đa 40 cm và chưa từng sinh sản trong hồ nuôi, do vậy mà không hề có thông tin gì về hành vi sinh sản của chúng. Thông thường, cặp cá thể hiện tất cá các dấu hiệu sinh sản nhưng không chịu đẻ trứng. Có ý kiến cho rằng vì loài này sống trong hang nên rất khó cho đẻ trong hồ nuôi. Chúng thường đào bới đáy hồ giống như các loài cichlid; có lẽ cần phải tạo một cái hang thật lớn để chúng có thể sinh sản thành công. Loài này có miệng lớn và thích ăn mồi sống. Chúng ta có thể luyện cho chúng ăn thức ăn đông lạnh nhưng hơi mất thời gian.
Loài Channa aurantimaculata (nguồn http://www.freewebs.com/yuchiachang).
Loài Channa melasoma phân bố ở Indonesia có kích thước tối đa 60 cm. Ngoài tự nhiên, loài này rất hiếm nên thậm chí một số ngư phủ địa phương cũng không hề biết đến chúng; do vậy mà loài này và cả hình ảnh của chúng cũng rất hiếm trên thị trường cá cảnh.
Loài Channa melasoma. (Hình trên) Cá thể trưởng thành. (Hình dưới) Cá thể non. (nguồn http://fisc.er.usgs.gov).
Loài Channa maculata là loài cá cảnh cận nhiệt đới có kích thước tối đa 60 cm. Loài này cũng khá hiếm trên thị trường cá cảnh.
Loài Channa pleurophthalmus khá hiền lành nên có thể nuôi theo bầy; tuy chúng cũng gây lộn với nhau đôi chút nhưng chỉ giới hạn ở các vết trầy xước ở vây và thân. Loài này có thân mảnh và lưng cao trông không giống như các loài cá lóc khác. Chúng có bốn hay năm chấm to trên thân mình với các viền xanh lấp lánh xung quanh trông tuyệt đẹp. Những cá thể lớn phát triển màu sắc tối đa giống như được trang điểm. Không như các loài cá lóc khác thường đứng yên và chuyển động một cách chậm rãi, Channa pleurophthalmus bơi rất nhiều nên hồ nuôi chúng phải thật lớn. Thông tin về sinh sản ở loài này hãy còn chưa rõ ràng. Chúng ta không cần bố trí nắp đậy hồ và thực vật thủy sinh bởi vì chúng cần rất nhiều không gian. Điều này có thể dẫn đến việc bố trí hồ nuôi thật lớn mà hầu hết người nuôi cá không thể đáp ứng nổi. Cũng có thể sử dụng hồ có kích thước vừa phải bằng cách nuôi một nhóm từ nhỏ rồi chọn ra chỉ một cặp để nuôi. Các cá thể khác có thể đem bán; việc này có lẽ cũng không khó khăn gì vì loài này vốn rất đẹp.
Loài Channa pleurophthalmus.
Tags: