Non bộ trong lịch sử Việt Nam - Phần 3
Non bộ trong Việt sử
Một non bộ cổ nhất ở Việt Nam vào thế kỷ thứ X và có lẽ cổ nhất trên thế giới hiện nay vẫn tồn tại và được bảo quản tại Hoa Lư tỉnh Ninh Bình, Bắc Việt. Sách Địa Dư Các Tỉnh Bắc Kỳ, xuất bản năm 1930, ghi:- Huyện Gia Viễn (Ninh Bình) thuộc xã Trường Yên có động Hoa Lư, xưa là kinh đô nhà Đinh và nhà Tiền Lê, hiện nay còn lăng và đền thờ vua Đinh và vua Lê.
- Bến đò lên, có một con đường hẹp lởm chởm những đá, đi độ nửa giờ thì đến làng An Hạ có đền thờ vua Lê. Mới đến có một cái sập đá rồi qua cửa tam quan thì một bên có một cái giếng, một bên có một cái núi non bộ bằng một tảng đá lớn (13).
Theo truyền thuyết vùng Ninh Bình thì ngay từ hồi vua Lê Đại Hành (980-1005) còn sinh tiền, tại kinh đô Hoa Lư, song song với việc xây dựng các cung điện như Bạch Bảo Thiên Tuế, điện Phong Lưu, điện Vinh Hoa, điện Bồng Lai, điện Cực Lạc, điện Trường Xuân v.v... thì hòn non bộ nói trên được chế tác để chúc thọ nhà vua.
Sử cũ đã ghi: Năm Ất Dậu, hiệu Thiên Phúc thứ 5 (985), mùa thu, tháng bảy, ngày Đinh Tị là ngày sinh của vua. Vua sai người đóng thuyền ở giữa sông dùng tre làm núi giả ở trên thuyền gọi là Nam Sơn (14).
Từ đấy, năm nào cũng giữ làm lệ thường (15).
Triều đại nhà Lý (1009-1225) là một trong những triều đại mở đầu cho việc xây dựng nền độc lập tự chủ lâu dài của dân tộc, sau hơn nghìn năm sống trong màn đêm thống trị của phương Bắc. Năm 1010, vua Lý Thái Tổ dời đô về Thăng Long, tiện nghi và rộng rãi hơn Hoa Lư, để xây dựng nên một trung tâm văn hóa tầm kích lớn cho Đại Việt, có ý muốn sánh ngang hàng với Đại Đường, Đại Tống phương bắc. Phật giáo và Lão giáo đã chiếm những chỗ đứng ưu thế trong đời sống tín ngưỡng dân gian, dần dần trở thành quốc giáo, chính vua Lý Thánh Tông đã lập ra phái Thảo Đường, bước đầu tạo sự phối hợp hài hòa giữa đạo và đời.
Kinh đô Thăng Long được các vua Lý mở mang ngày một lớn rộng. Các cung điện, lầu gác, đình tọa, chùa tháp, v.v...., được dựng lên và tu bổ liên tục, như điện Thiên An, điện Thiên Khánh, điện Trường Xuân, lầu Chính Dương, lầu Long Đồ để vua dạo ngắm hay điện Long Thụy, Long An để vua nghỉ ngơi, chắc hẳn những nơi ấy có vườn cảnh, cây cảnh, non bộ, để vua thưởng ngoạn.
Triều vua Lý Thái Tổ (1010-1028), Việt Sử Lược ghi: Năm Tân Dậu, hiệu Thuận Thiên thứ 12 (1021) Mùa xuân, tháng 2 ngày Mậu Tí lấy ngày sinh của vua làm tiết Thiên Thành, xây Vạn Tuế Nam Sơn ở ngoài cửa Quảng Phúc, làm nhiều hình chim bay, thú chạy, bày la liệt ở trên.(16)
Cùng sự việc này, sách Đại Việt Sử Ký Toàn Thư lại ghi: Lấy tre làm một ngọn núi gọi là Vạn Thọ Nam Sơn ở ngoài cửa Quảng Phúc, trên núi làm nhiều hình chim bay, thú chạy, muôn vẻ lạ kỳ. Lõi sai người bắt chước tiếng cầm thú làm vui để ban yến cho bày tôi.
Năm Nhâm Tuất (1022), mùa xuân, tháng 2, vua thấy tiết Thiên Thành làm núi giả khó nhọc cho dân, bãi đi, chỉ đặt yến lễ mà thôi (17).
Dưới triều vua Lý Thái Tông (1028-1054), sử cũ cho biết năm Mậu Thìn 1028: Tháng sáu, lấy ngày sinh vua làm tiết Thiên Khánh, xây Vạn Tuế Sơn ở Long Trì, có năm ngọn, ngọn ở giữa dựng bức tranh Trường Thọ Tiên, hai bên tả hữu đều có hạc trắng (18); trên núi làm những hình tiên bay, chim, thú ; lưng chừng núi lại có thần long vây quấn, cắm cờ, treo vàng ngọc, sai bọn phường tuồng (linh nhi) ở trên núi thổi sáo, ca múa làm vui (19).
Năm Kỷ Sửu (1049) Mùa thu, tháng 8, đào ngòi ngự ở phía ngoài Phượng thành; lại đào ao Kim minh vạn tuế. Khi mới đào, trong ao có tiếng kêu xoang xoảng, đào lên, được một khối vàng nặng 50 lạng, cho nên đặt tên đó. Lại đắp núi đá có ba ngọn ở trên ao, xây cầu Vũ-phượng (20).
Năm Tân Mão, hiệu Sung Hưng Đại Bảo năm thứ 3 (1051), đào ao Thụy Thanh, ao Ứng Minh ở vườn Thắng Cảnh (21).
Triều vua Lý Thánh Tông (1054-1072), sử cũ cũng nói về vườn cảnh và non bộ của nhà vua:
Năm Đinh Dậu (1057) Mùa hạ, tháng 4, ngày Giáp Ngọ rồng vàng từ vườn Quỳnh-lâm hiện ra ở phía trước điện Trường -xuân (22).
Năm Mậu Tuất, hiệu Long-thụy thái-bình năm thứ 5 (1058), xây điện Hồ-thiên bát giác ở ao Kim-minh.
Tháng 3, mở cửa Tường phù, xây lầu ở trên đó.
Tháng 6, xây điện Linh-quang, bên trái dựng điện Kiến-lễ, bên phải dựng điện Sùng-nghi. phía trước điện dựng lầu chuông, một cột, sáu cạnh hình hoa sen (độc trụ lục giác liên hoa chung lâu) (23).
Năm Ất Tị (1065), tháng 8, mở vườn Thượng-lâm (24).
Triều vua Lý Nhân Tông (1072-1127), năm Mậu Dần, hiệu Hội-phong năm thứ 7 (1098) mùa thu, tháng 8, lập núi Ngao-sơn trên đất (25). Sự kiện này, Hoàng Xuân Hãn có chi tiết hơn: Vua 35 tuổi, vẫn chưa có hoàng tử. Vua lập đàn, có xây núi Ngao Sơntrên đất cạn; dựng đài cao,, chung quanh treo đèn đủ sắc, đủ kiểu, ở trên có vũ nữ múa, nhạc công cử nhạc. (26)
Tháng 9 (1098), xây điện Xùng-uyên ở ao Phượng-liên, bên trái đặt điện Huy-dương, đình Lai-phượng, bên phải dựng điện Ảnh-thiềm, đình Át-vân, phía trước xây lầu Trường-minh, phía sau bắc cầu Ngoạn-hoa (27).
Tháng 9 Tân Hợi (1131, đời Lý Thần Nông) mở vườn Bảo Hoa (28).
Vua Lý Anh Tông (1138-1175) sai xây dựng nhà cửa lớn, làm điện Thụy Quang, đình Thưởng Hoa, ao Kim Liên, cầu Minh Nguyệt,... (29).
Những công trình tạo tác như vậy vẫn liên tục tới cuối thời Lý chưa ngưng nghỉ. Năm Quí Hợi 1203 vua Lý Cao Tông cho xây thêm nhiều cung điện lầu gác, trong đó có gác Thánh Thọ.... ao Dưỡng Ngư, trên ao xây đình Ngoạn Y. Ba mặt đình có trồng hoa thơm cỏ lạ, nước ao thông với sông, cách chạm trổ, trang sức khéo léo, công trình thổ mộc đẹp đẽ, xưa chưa từng có vậy (30).
Các chùa tháp thời Lý phần lớn do nhà vua, hoàng gia hay các quan lại giới quí tộc bỏ tiền ra xây dựng ở kinh đô Thăng Long, hay ở những nơi có cảnh đẹp núi sông, mà trong khuôn viên chùa chiền hay đền miếu thường có vườn cảnh, cây cảnh, non bộ. Năm 1077 Thái Sư Lý Thường Kiệt giúp nhà sư Đạo Dung trùng tu, sửa chữa chùa Hương Nghiêm (xây dựng đời Hậu Đường năm 923-937) ở Thanh Hóa, bia chùa Hương Nghiêm dựng năm Giáp Thìn 1124 ghi rõ
"Sư liền sai thợ sửa chữa. Tô tượng Phật ngồi trên Bàn Đá. Đào hồ, giữa hồ, xây bệ; đặt tượng Phật trên. Chùa cao, cửa rộng, mái ngói. Mé tả có lầu chuông, mé hữu dựng bia đá ghi công. Xung quanh đều xây tường. Vườn giồng hoa cỏ " (31).Thực ra nhiều cảnh chùa thời Lý, nhìn toàn bộ, rõ ràng là những vườn cảnh lớn. Ví dụ vua Lý Nhân Tông cho trùng tu chùa Diên Hựu (xây dựng năm 1049) ở phía tây Thăng Long cạnh núi Nùng sông Nhị, bia tháp Sùng Thiện Diên Linh ghi như sau:
Mở chùa Diên Hựu ở tại vườn Tây. Dấu vết theo qui mô thuở trước, lo toan do ý thánh ngày nay. Đào ao thơm Linh chiểu. Giữa ao trồi lên một cột đá. Trên cột có một đóa hoa sen nghìn cánh xòe ra. Trên hoa dựng ngôi đền đỏ sẫm. Trong đền đặt pho tượng sắc vàng. Ngoài ao có hành lang bao bọc. Ngoài hành lang lại đào ao Bích Trì, bắc cầu cong để đi lại. — sân trước cầu, hai bên tả hữu xây bảo tháp Lưu Ly... (32).Không chỉ riêng kinh đô Thăng Long, các địa phương cũng cố gắng xây dựng lâu đài đền miếu, vườn tược. Bia Sùng Nghiêm Diên Thánh ghi rõ năm 1115, khi Chu Văn Thường đến thay thế lão tướng Lý Thường Kiệt, quản nhiệm quận Cửu Chân (Thanh Hóa): nhà vua xuống chiếu sai ông thống lĩnh dân chúng, sửa sang nhà thự ở quận, xây dựng điện đường cùng lang vũ chung quanh, vủng cố thành quách, chia đặt trạm dịch, khai đào sông ngòi, mở mang vườn tược (33).
Chơi vườn cảnh, cây cảnh, non bộ, không chỉ riêng vua quan giới quí tộc thời Lý, mà còn thấy ở nơi dân dã hay nơi các dân tộc ít người khác tại Việt Nam khoảng các thế kỷ XI, XII và XIII. Sách Lĩnh Nam Dật Sử của Ma Văn Cao viết bằng chữ Mường thời Lý, được danh tướng Trần Nhật Duật chuyển ngữ sang chữ Hán năm Đinh Dậu 1297, rồi Bùi Đàn dịch sang Việt văn, có đoạn nói về non bộ như sau:
Trở lại chuyện Quý Nhi tiến vào trong vườn, thấy một vườn hoa đắp dựa theo núi ; dưới núi có một tòa lầu nho nhỏ, xung quanh trồng toàn cây có hoa, bên tả là một hòn non bộ thiên nhiên, lóng lánh như ngọc. Dưới hòn non bộ, có suối chảy vào thành ao, nước trong suốt như gương. Cạnh hòn non bộ có một lối đi nhỏ quanh co hai bên trồng trúc đào... (34).
Về hình thức, để chế tác non bộ đẹp và gợi cảm cho khách thưởng ngoạn, ngoài những hoàn chỉnh về dáng, về không gian, về ngôi chủ khách, yếu tố thực hư, động tĩnh, về tương quan tỷ lệ, sáng tối, v.v..., phần điểm xuyết trang trí cũng quan trọng, kể cả các máy móc trang bị phụ thuộc như máy bơm nước hay bơm cát trắng giả làm thác đổ, ghềnh suối, máy phun khói giả làm mây, làm sương mờ cho núi v.v.... Nghệ nhân thời Lý đã phát minh được nhiều máy móc tự động trang trí cho hòn non. Đây là một phát kiến mới lạ đầu tiên cho môn chơi non bộ tại Việt Nam, cũng như trên thế giới ngay từ thế kỷ XI, XII. Bia Sùng Thiện Diên Linh ở núi Long Đội (Duy-tiên, Nam Hà), dựng năm 1121, do Lý Công Bật soạn, đã mô tả rõ một số những máy móc tự động được thực hiện dưới triều vua Lý Nhân Tông (1072-1127) như máy Kim ngao, máy quay đèn, người nộn chuyển động:
Máy Kim ngao: Ngày Trung thu và ngày Tết, Nhân Tông ngự ở điện Linh Quang trên bờ sông Lô... — giữa sông một con rùa vàng nổi, lưng đội ba hòn núi. Rùa lội rù rờ trên mặt nước, lộ vân trên vỏ và rè bốn chân. Chuyển mắt nhìn lên bờ, miệng thì phun nước lên bến. Quay đầu hướng tới ngai vua mà cúi đầu chào.... Các thần tiên xuất hiện, nét mặt nhuần nhị thanh tân,... Chim phượng có sừng họp nhau thành đội ra múa may, phô diễn. Hươu nai họp thành đàn đi lại, nhả nhót...
Đây là máy đèn quay và người nộn đánh chuông, y là lúc vua kén Hoàng Hậu. Nhân Tông đặt hội đèn Quảng Chiếu: dựng đài Quảng Chiếu ngoảnh ra cửa Đoan Môn. Giữa nêu một cái cột, ngoài đặt bảy từng, rồng cuốn mà đỡ tòa liên, rèm lồng mà che đèn sáng rực. Có máy dấu kín dưới đất, làm đài quay như bánh xe. Lại có hai tòa hoa lâu, treo quả chuông đồng, tạc chú tiểu mặc áo cà sa, vặn máy kín thì giơ dùi đánh. Nghe tiếng sáo, liền quay mặt lại. Thấy bóng vua lại biết cúi đầu, tựa hồ như có trí khôn, biết khi động khi tĩnh (35).
Phan Quỳnh
Chú thích:
(13) Đỗ Đình Nghiêm, Ngô Vi Liễn, Phạm văn Thư, Địa Dư Các Tỉnh Bắc Kỳ, Hà Nội, nhà in Lê Văn Tân in lần thứ 3, 1930, trg 65.(14) Việt Sử Lược, tác giả khuyết danh thời Trần thế kỷ XIV, Trần Quốc Vượng phiên dịch và chú giải, Hà Nội, nxb Văn Sử Địa, 1960, trg 57.
(15) Việt Sử Thông Giám Cương Mục, Quốc Sử Quán thế kỷ XIX, tổ biên dịch ban nghiên cứu Văn Sử Địa hiệu đính và chú giải, Hà Nội, nxb Văn Sử Địa, 1958, tập III Chính biên, quyển 1-2
(16) Việt Sử Lược, sđd, trg 74.
(17) Đại Việt Sử Ký Toàn Thư, mộc bản khăc năm Chính Hòa thứ 18, tập I, dịch và chú thích Ngô Đực Thọ, hiệu dính: gs Hà Văn Tấn, Hà Nội, nhà xb KHXH, 1993, trg 241-2.
(18) Đại Việt Sử Ký Toàn Thư của Ngô Sĩ Liên lại ghi là: ở đỉnh bên ngọn tả hữu dựng núi Bạch Hạc.
(19) Việt Sử Lược, sđd, trg 78.
(20) Việt Sử Lược, sđd, trg 89-90.
(21) Việt Sử Lược, sđd, trg 91.
(22) Việt Sử Lược, sđd, trg 95.
(23) Việt Sử Lược, sđd, trg 96.
(24) Việt Sử Lược, sđd, trg 100.
(25) Việt Sử Lược, sđd, trg 119.
(26) Hoàng Xuân Hãn, Lý Thường Kiệt. Hanoi, Sông Nhị, 1950, nxb Hà Nội in lại, lời bạt của Hà Văn Tấn, 1996, trg 378-379.
(27) Việt Sử Lược, sđd, trg 119.
(28) Đại Việt Sử Ký Toàn Thư, bản Chinh Hòa, sđd, trg 305.
(29) Ngọ Phong Ngô Thời Sỹ, Việt Sử Tiêu Án, Saigon,Hội Việt Nam Nghiên Cựu Liên Lạc Văn Hóa Á Châu dịch và xuất bản, 1960, trg 150.
(30) Việt Sử Lược, sđd, trg166.
(31) Hoàng Xuân Hãn, Lý Thường Kiệt, sđd, trg 457.
(32) Nguyễn Công Bật, Đại Việt Quốc đương gia đệ tứ đế Sùng Thiên Diên Linh tháp bi (1121). Bản dịch của viện Mỹ Thuật Mỹ Nghệ Hà Nội.
(33) Pháp Bảo: Sùng Nghiêm Diên Thánh bi ký (1118). bản dịch của viện Mỹ Thuật Mỹ Nghệ Hà Nội.
(34) Ma Văn Cao, Lĩnh Nam Dật Sử, nguyên bản bằng Mường ngữ vào thời nhà Lý, Trần Nhật Duật đề tựa, phiên dịch sang Hán văn năm 1297 có thêm lời bàn của Trần Quốc Toản và Trương Hán Siêu, Bùi Đàn dịch sang Việt văn, Saigon, 1968, quyển II, trg 100-101.
(35) Nguyễn Đăng Thục, Thiền Học Việt Nam, Saigon, Lá Bối xb, 1967, trg 162.Chép theo bia tháp Sùng Thiên Diên Linh.
