Non bộ trong lịch sử Việt Nam - Phần 4
Đến thời Trần (1225-1413), đất nước tuy đã trải qua hơn một thế kỷ sạch bóng quân xâm lược, nhưng nền độc lập dân tộc vẫn bị ngoại xâm đe dọa. Do đó, ở thời này tinh thần tự cường tự chủ vẫn là cơ sở thôi thú toàn dân không ngừng vươn lên, xây dựng một đất nước giàu mạnh.Nho giáo đã có một vị trí vững chắc, làm một chân kiềng cho tam giáo Khổng Lão Thích hòa đồng để tạo một nhân sinh quan vững mạnh cho hào khí Đông A, sức bật tất yếu cho ba cuộc chiến thắng Nguyên Mông về quân sự vào những năm 1257, 1285 và 1288, cũng như cho văn hóa dân tộc, ví dụ chú ý đến việc thi cử để đào tạo nhân tài, làm giường cột cho đất nước hoặc việc phổ biến chữ Nôm rộng rãi bên cạnh chữ Hán (36).
Trải qua ba lần xâm lược của giặc Nguyên Mông, kinh đô Thăng Long bị tàn phá nặng nề. Năm 1289, triều đình đã tổ chức xây dựng trùng tu lại các cung điện, lầu gác, vườn tược, bắt quân dân những ai hàng giặc phải chuyên chở gỗ, đá làm cung điện để chuộc tội (37).
Công việc tu sửa liên tục không ngưng nghỉ. Sử cũ ghi năm Quý Mão 1363 vua Trần Dụ Tông đã cho: đào hồ ở vườn ngự trong Hậu cung, trong hồ xếp đá làm núi, bốn mặt khai ngòi, chảy thông nhau, trên mặt hồ trồng cây tùng, cây trúc và các thứ hoa cỏ lạ, lại nuôi chim quý, thú lạ trong ấy. Phía tây hồ trồng hai cây quế, dựng điện Song Quế, lại gọi là điện Lạc Thanh. Hồ ấy gọi là hồ Lạc Thanh. Lại làm riêng hồ con, sai người ở Hải Đông chở nước mặm chứa vào, đem các thứ hải vật như đồi mồi, cá, thuồng luồng... nuôi ở đấy. Lại sai người ở châu Hóa chở cá sấu đến thả, lại có hồ Thanh Ngư thả cá thanh phụ (cá diếc) (38).
Song song với việc tu sửa ở Thăng Long, các vua Trần đã cho xây dưng tại quê hương mình ở Tức Mặc, phủ Thiên Trường, hàng loạt cung điện, lầu gác, nhà cửa, để làm nơi ở cho con cháu họ hàng thân thuộc và ngay cả bản thân mình sau khi nhường ngôi vua, lên chức Thái Thượng Hoàng. Những cung điện này chắc hẳn phải bề thế, đẹp đẽ. có vườn tược, cây cảnh, non bộ, nên trong bài thơ của Trần Nguyên Đán làm họa lại thơ của Thái Thượng Hoàng Nghệ Tông lúc về Tức Mặc, đã ví nó như cung điện ở đất Phong, đất Bái nổi tiếng của nhà Hán bên Trung Quốc (39), hoặc bài thơ tả cung điện lầu gác ở phủ Thiên Trường của vua Trần Thánh Tông:
Cảnh thanh u vật diệc thanh uĐặc điểm của thời Trần là chế độ phong ấp cho thân vương và quan lại đã kích thích phong trào chơi non bộ càng lan rộng hơn từ thế kỷ XIII, XIV, trở về sau.
Thập nhị tiên châu thứ nhất châu...
(Cảnh thanh u vật cũng thanh u.
Mười hai cõi tiên âu chốn này là một)
(Hạnh Thiên Trường Hành Cung)
Ngoài các cung điện của các vua Trần tại Thăng Long và phủ Thiên Trường, vườn tược, cây cảnh, non bộ còn được chế tác xây đắp trong các điền trang thái ấp của các hoàng-thân quốc-thích và của giới quý tộc với lầu son gác tía như các công trình xây dựng trang ấp của Chiêu Minh đại vương Thái sư Trần Quang Khải với khu vườn Phúc Hưng nổi tiếng vừa trồng cây cảnh vừa trồng cây thuốc ở thôn Độc Lập, xã Mỹ Thành, huyện Mỹ Lộc (tỉnh Nam Hà ngày nay), của Trần Quang Điền ở Quặc Hương, của Hưng Đạo Vương Trần Quốc Tuấn ở Vạn Kiếp (nay là Kiếp Bạc thuộc Chí Linh Hải Hưng) với vườn cảnh An Lạc và vườn trồng thuốc nam rộng lớn cả một quả núi đến nay ở đó vẫn mang tên là Dược Sơn, của Nhân Huệ Vương Trần Khánh Dư ở Vân Đồn hay của Phạm Ngũ Lão ở Phù œng, Nguyễn Khoái được phong tước hầu và được phong cấp cả một hương (tương đương quận hay huyện sau này) gọi là Khoái lộ (Khoái châu, Hải-hưng) để làm thang mộc ấp: Phạm Ngô giữ chức Tham tán nhung vụ cũng được cấp 80 mẫu ruộng. (các vương hầu có thể đem hàng trăm, hàng ngàn mẫu ruộng cúng vào nhà chùa v.v...
Trong tập thơ Lạc Đạo của Trần Quang Khải nguyên văn chữ Nho chép trong Lịch triều hiến chương loại chí: Văn tịch chí (q. 42-45) của Phan Huy Chú (1782-1840), có những câu thơ về cây cảnh mai, trúc... ở vườn Phúc Hưng như sau:
Phúc Hưng nhất khúc, thuỷ hồi hoàn,Ngay cả giới quan lại, nho sĩ đương thời cũng có những tư dinh ở địa phương làm nơi dậy học, dưỡng nhàn, cùng bạn bè lui tới ngâm vịnh. Ví dụ như nhà dậy học và ẩn cư của Chu Văn An ở núi Phượng Hoàng (Chí Linh Hải Hưng), còn gọi là núi Lan Phụng, ở đấy có điện Tử Cực, điện Lưu Quang, chân núi có suối Miết Trì, lưng núi có chùa Lệ Kỳ, có hang động Huyền Vân, Chu Văn An có bài thơ ngâm vịnh cảnh đẹp ở đây:
Trung hữu bình viên sổ mẫu khoan.
Mai ổ tuyết tiêu châu bội lỗi.
Trúc đình vân quyển, bích lang can.
(Phúc Hưng ngòi nước chẩy quanh quanh
Vườn rộng phẳng phiu mấy mẫu lành
Tan tuyết, chòm mai hoa lấp lánh
Cuốn mây, bụi trúc ngọc biếc xanh.)
Vạn điệp thanh sơn thốc hoạ hìnhAm Bích Động của nhà thơ Văn-huệ vương Trần Quang Triều ở chùa Quỳnh Lâm (Đông Triều Quảng Ninh (40), hoặc Phúc Am của Trương Hán Siêu, ai trông thấy cũng mến chuộng với thắng cảnh sơn thuỷ núi Dục Thuý, v.v.... Trong số này phải kể đến công trình đẹp, có tiếng như động Thanh Hư của Trần Nguyên Đán ở Côn Sơn (Chí Linh Hải Hưng).
Tà dương đảo quải bán khê minh
Thúy la kinh lý vô nhân đáo
Sơn hạc đề yên thới nhất thanh
(Muôn lớp núi xanh bình phong vẽ
Bóng chiều chiếu xế sáng nửa khe
Lối xanh rì dây leo không ai đi đến Hạc núi trong mây thỉnh thoảng môt tiếng kêu)
Sau khi cáo quan về Côn Sơn, Trần Nguyên Đán đã xây dựng nhiều công trình kiến trúc giá trị, có vườn tược, có cây cảnh, có non bộ, đặt tên chung là động Thanh Hư. Ngoài nhà cửa lầu gác, ông còn cho làm chiếc cầu Thấu Ngọc, một công trình đặc sắc đã được sách Đại Thanh Nhất Thống Chí của Trung Quốc liệt vào một trong những kỳ công thời bấy giờ (41). Cảnh đẹp hùng vĩ của Côn Sơn đã được cháu ngoại Trần Nguyên Đán là Nguyễn Trãi cũng về trí-sĩ tại đây viết như sau:
Côn Sơn có suối nước trong,Viết về Trần Nguyên Đán, Rolf A. Stein lại cho chúng ta biết thêm mối liên hệ giữa non bộ và hang động tại VN:
Ta nghe suối chảy như cung đàn cầm.
Côn Sơn có đá tần-vần,
Mưa tuôn đá sạch ta ngồi ta chơi.
Côn Sơn thông tốt ngất trời,
Ngả nghiêng dưới bóng ta thời tự do.
Côn Sơn trúc mọc đầy gò,
Lá xanh bóng rợp tha hồ tiêu dao.
...
(Nuyễn Trọng Thuật diễn nôm, Nam Phong Tạp Chí, t. XXVI, số 148)
Trần Nguyên Đán về ẩn ở động Thanh Hư. Tên hiệu là Băng Hồ không phải chỉ là một ngụ ý văn chương của một bài thơ danh tiếng. Từ ấy còn gợi nên tất cả giá trị nguyên thủy của nó. Chúng ta biết rằng những bầu Hồ có thể là những thế giới bầu trời hệt như một hang động là những tầng trời, thế giới Thiên đường, Động Thiên. Tên Thanh Hư được đặt cho tên động của ông chính là tên của cái đệ nhất Động Thiên ghi trong sách Vô Thượng Bí Yếu (của Đạo tạng). [Băng] Hồ là thế giới thanh khiết, cảnh giới thứ nhất của Thần Tiên bất tử.
(... let us go back to the retreat of Trần Nguyên Đan. His sobriquet Băng-hô is not a simple literary allusion to a famous poem. The expression keeps its primitive force. We know that the hu vessels could be worlds, just as certain caves are heavens (paradisiacal worlds, tung tiên). The mane Thanh-hư given to the cave on this site is the very name of the first cave-heaven (tung t ien) listed in the Wu-shang pi-yao (Tao-tsang). The hu vessel made of jade or ice is thus an immaculate world like the first of the abodes of the Immortals (42).)Năm 1397, Hồ Quý Ly, người có quyền thế lớn nhất trong triều Trần được phong tước đại vương, cho xây dựng kinh đô mới, gọi là Tây-đô (nhân dân thường gọi thành nhà Hồ). Hoàng Xuân Hãn viết: Làng Đại Lại (Thanh Hóa) là quê của Hồ Quý Ly. Năm 1398, Quý Ly dựng cung Bảo Thanh ở dưới chân núi Đại Lại, để ép vua Trần Thuận Tông ở. Sau khi Quý Ly lên ngôi, thường hay về nghỉ mát ở đó. Dựng cung gọi là Ly Cung. Có bể tắm, xây đá, có chạm trổ rất đẹp. Bể tắm, thì lấy nước suối cho vào. Nay vết tích bể tắm còn (43).
Kinh thành Tây-đô nằm giữa vùng núi sông hiểm trở, nhìn từ cao xuống thấy giống như một hòn non bộ hùng vĩ. Tây-đô ở gần núi đá vôi An-tôn, phía bắc có có núi Voi, phía nam có núi Đốn-sơn, phía đông có núi Hắc-khuyển và sông Bái bao quanh, phía tây có sông Mã bao bọc. Thành xây toàn bằng đá khối chữ nhật rất lớn.
Sách Việt Sử Tiêu Án của Ngọ Phong Ngô Thời Sỹ (1726-1780) ghi một giai thoại về non bộ và cây tùng cảnh của Hồ Quý Ly.
Hồ Quý Ly muốn nhường ngôi cho con thứ là Hồ Hán Thương (Xương) bèn mượn hòn đá non bộ nhỏ dùng làm nghiên mực của mình để ra câu đối:
"Thử nhất quyền kỳ thạch, hữu thời vi vân vi vũ dĩ nhuận sinh-dân",bắt các con đối, để xem chí khí thế nào, người con lớn là Hồ Nguyên Trừng biết được ý cha mình, mới đối rằng:
(Hòn đá kỳ lạ này có lúc làm mây mưa để ban ơn cho dân, tỏ khí độ một vị vua)
"Giá tam thốn tiểu tùng tha nhật tác đống tác lương kham phò xã tắc"để tỏ ý mình chỉ đáng làm người giúp việc thôi.(44)
(Cây thông nhỏ ba tấc gỗ này một ngày kia sẽ làm dường cột giúp xã tắc)
Phan Quỳnh
Chú thích:
(36) Nhờ việc học hành thi cử này thời Trần đã đào tạo nhiều nhân tài lỗi lạc như Chu Văn An, Lê Văn Hưu, Mạc Đĩnh Chi, Trương Hán Siêu, Phạm Sư Mạnh, v.v.... Chữ Nôm có từ trước đến thời Trần phổ biến rộng rãi hơn.(37) Ngọ Phong Ngô Thời Sỹ, Việt Sử Tiêu Án, sđd, trg 305.
(38) Ngô Sĩ Liên và các sử thần triều Lê, Đại Việt Sử Ký Toàn Thư, Hà Nội, KHXH, 1971, tập II, trg 166.
(39) Trần Nguyên Đán: Phụng Canh Thái Thượng Hoàng Ngự Chế Thiên Trường Phủ, Trùng Quang Cung (thơ chữ Hán) - Phong, Bái là đất phát tích của nhà Hán.
(40) Trần Quang Triều đã cùng Nguyễn Xương, Nguyễn Úc và các bạn bè khác của ông lập ra phái thơ Bích Động Thi Xã. Họ cho dựng am Bích Động tại chùa Quỳnh Lâm để cùng nhau ngâm vịnh tại đây.
(41) Theo tài liệu của học giả Lê Thước.
(42) Rold A. Stein, sđd, trg 73.
(43) Hoàng Xuân Hãn, Lý Thường Kiệt, sđd, trg 473.
(44) Ngọ Phong Ngô Thời Sỹ, Việt Sử Tiêu Án, sđd, trg 276-277.