Non bộ trong lịch sử Việt Nam - Phần 5

Trong 20 năm bị quân Minh thống trị, nền văn hóa của dân tộc bị huỷ hoại nghiêm trọng. Ngay từ những ngày đầu xâm lược, quân Minh đã có âm mưu đồng hóa dân Việt, tiêu hủy toàn bộ kho tàng văn hóa của dân tộc vốn có từ xưa để lại. Sử cũ còn ghi ngày 21-8-1406 Minh Thành Tổ đã lệnh cho Chu Năng là tướng cầm đầu: lúc vào đến nước ta, quân Minh phải tìm cách đốt hết, phá hết các di sản văn hóa, chỉ trừ bia Trung Quốc. Năm sau, vua Minh lại ra thêm lệnh về việc này để quân lính thi hành triệt để hơn: sách vở, bia ký đều bị tiêu hủy, những công trình nghệ thuật to lớn cũng bị thiêu phá, kể cả tượng Phật cũng bị phá nát. Bia chùa Ngô Xá ghi rõ:
Đến khi giặc Ngô cất binh xâm chiếm bờ cõi nước ta có mang lòng độc ác phá hết các pho tượng Phật (45).
Những vườn cảnh, non bộ đẹp cũng chung số phận như các công trình mỹ thuật khác dưới bàn tay thô bạo của giặc Minh.

Sau khi chiến thắng quân Minh xâm lược, Lê Lợi dựng nên chính quyền Lê sơ theo qui cách của các triều đại trước ở VN. Đến đầu thế kỷ XVI, mọi tổ chức chính trị, kinh tế, quân sự, văn hóa, xã hội của nhà nước đều đi đến chỗ hoàn bị và chặt chẽ.

Lê triều dùng phép dựng nước trị dân theo tư tưởng của học thuyết Tống Nho. Điều đó khiến cho văn hóa phương Bắc ảnh hưởng đến các công trình văn hóa nghệ thuật của nước ta không ít. Học thuyết Tống Nho do các nhà nho đời Tống xây dựng trên cơ sở học thuyết của Khổng-tử nhằm phục vụ yêu cầu phát triển mới của chế độ phong kiến Trung-quốc lúc bấy giờ, ra sức biện hộ cho chế độ quân chủ chuyên chế, củng cố sự phân biệt đẳng cấp và các trật tự phong kiến, khác với tư tưởng Nguyên Nho thời Tiên Tần.

Trong suốt một thế kỷ tồn tại (1427-1527), nhà Hậu Lê đã cho tu sửa và xây dựng lại tất cả mọi cơ sở vật chất từ cung điện, lầu gác của nhà vua và hoàng tộc cho đến các dinh thự của quan lại ở trung ương và các địa phương. Tiêu biểu nhất là các công trình tập trung trong hai khu vực lớn: Đông kinh và Lam kinh.

Đông Kinh

Đông kinh là Thăng Long cũ. Thành có hai vòng lớp khép kín. Vòng trong là Hoàng thành, nơi ở và làm việc của vua và triều đình. Vòng ngoài là nơi ở của quan lại, sĩ phu, và các tầng lớp nhân dân. Cả hai vòng đều được tu sửa hay xây dựng thêm nhiều công trình cung điện lầu gác mà các sử gia khen lộng lẫy hơn xưa, nổi danh với vườn Thượng Uyển rộng lớn nuôi cả hươu nai và các muông thú lạ khác.

Lê Quí Đôn, trong Kiến Văn Tiểu Lục, đã miêu tả nghi lễ chúc thọ vua bằng cây cảnh, cây thiên tuế, như sau:
Năm Quang Thuận thứ tám (1467 đời vua Lê Thánh Tông) dùng ngày 16 tháng Giêng làm lễ mừng thọ ở điện Cần Chánh, bèn định thành thể lệ. Từ lúc Trung hưng trở đi, hàng năm đến ngày 27 tháng Giêng cử hành lễ mừng thọ ở điện Vạn Thọ. Trước ngày hành lễ, dựng đình bằng lá ở chợ Huyện, đặt giường ngự. Đến ngày làm lễ, vệ binh cầm cờ quạt, nghi trượng, âm nhạc và khiêng án, viên quan giữ nghi lễ bưng cây thiên tuế từ trong nội điện ra đến đình, đặt trên giường, che quạt vả để hộ vệ. Thày cúng quì ở trước hương án khấn khứa cầu đảo, gieo quẻ xin âm dương, quẻ gieo được tốt thì hoan hô. Quạt mở ra, trăm quan đều mặc triều phục chia ra từng quan đứng ở giữa đường, hướng vào hương án mà lạy, lạy xong trở ra đi trước dẫn đường. Viên quan giữ lễ hạ lại bưng cây thiên tuế đi trước hương án, nghi trượng theo sau, vào đến giữa điện trước giường ngự, đi vòng quanh chín lần. Xong rồi, kính cẩn đặt cây trước xa giá, thị vệ bưng cây yên trí vào trong trướng. Nghi lễ đã cử hành xong, vua ngự ở điện, trăm quan lậy mừng (46).

Lam Kinh

Lam kinh là Lam Sơn (Thanh Hóa), quê hương và là nơi xuất phát cuộc khởi nghĩa của Lê Lợi. Sau khi bị hỏa hoạn, Lam kinh được triều đình nhà Lê tổ chức xây cất lại cung điện, lầu gác, vườn tược, rất lộng lẫy và dần dần trở thành nơi tụ hội tấp nập đông người. Lam kinh không phải là thành phố chính trị mà chỉ là nơi cư ngụ của họ hàng nhà vua và là nơi vua và các quan về tế mộ tổ. Lăng miếu của các vua Lê đều để cả ở nơi đây. Do đó kiến trúc Lam kinh giống như một trung tâm nghỉ mát của vua quan nhà Lê, nên vườn cảnh, cây cảnh, non bộ, chắc hẳn phải được xây dựng, tu sửa, chăm sóc kỹ càng.

Sách Đại Việt Sử Ký Toàn Thư viết:
(năm Giáp Dần 1434, đời vua Lê Thái Tông) Bấy giờ các đại thần đều sai riêng quân lính làm nhà cửa lớn cho mình. Vua thấy thế, sai (Phan) Thiên Tước đi khắp các nhà đại thần xem xét cho rõ ràng (47).

(26a) Đại Việt Sử Ký Toàn Thư, mộc bản khắ năm Chính Hòa 18, tập II, dịch và chú thích Hoàng Văn Lâu, nhà xb KHXH Hà Nội, 1993, trang 323.
Nói chung, giống như các triều đại trước ở nước ta, các vua quan giới quí tộc thời Lê sơ cũng rất thích xây dựng vườn cảnh, cây cảnh, non bộ, riêng trong dinh cơ của mình, ngay cả ông vua có cuộc đời làm vua ngắn ngủi, vua Lê Uy Mục, cũng đã xây dựng cung điện, vườn tược riêng để thưởng ngoạn. Trong tờ hịch tố giác tội ác của Lê Uy Mục do Lương Đắc Bằng soạn, có đoạn vạch rõ:
Huống chi lại làm cung thất to, làm vườn hoa rộng. Bắt dân trồng cây theo bánh xe đổ gò Hoa Cương thời Tống (bên Trung Quốc) ; lấp biển làm điện, nối gót hôn mê cung A-phòng nhà Tần. Việc thổ mộc làm lại thôi, thôi lại làm, mệt nhọc dân Hải Dương, Kinh Bắc (48).
Phan Quỳnh


Chú thích:

(45) Bia chùa Ngô Xá, niên hiệu Cảnh Trị thứ 8 (1670) Bản dịch của viện Mỹ Thuật Hà Nội.
(46) Lê Quí Đôn, Kiến Văn Tiểu Lục, Hà Nội, nxb Văn Sử Địa, 1962, trg 79-80.
(47) Đại Việt Sử Ký Toàn Thư, bản Chính Hoà 18, tập II dịch và chú thích Hoàng Văn Lâu, Hà Nộ, na xb KHXH, 1993, trg 323.
(48) Ngô Sĩ Liên và các sử thần triều Lê, Đại Việt Sử Ký Toàn Thư, Hà Nội, KHXH, 1973, tập IV, trg 52.