Non bộ trong lịch sử Việt Nam - Phần 6
Bước sang giai đoạn phân tranh Nam Bắc triều (1527-1802), từ khi Mạc Đăng Dung cướp ngôi nhà Lê, xuyên qua thời kỳ Trịnh-Nguyễn cho đến khi Gia Long lên ngôi, giai đoạn mở đầu thời kỳ phân liệt và bước vào giai đoạn suy thoái của chế độ phong kiến Việt Nam sau già nửa thiên niên kỷ tồn tại. Nền kinh tế, xã hội có những biến động lớn làm thay đổi diện mạo của nền văn hóa nghệ thuật vốn rất mỹ lệ dưới thời Lý Trần, nghiêm lạnh dưới thời Lê sơ. Đây là những thế kỷ chấn hưng của Phật giáo sau hàng trăm năm bị ức chế bở chủ trương dương Nho ức Phật của nhà nước Lê sơ. Cùng với Đạo giáo, Phật giáo buột khỏi tay các vương hầu quí tộc tràn về các làng quê. Nho giáo không còn địa vị độc tôn. Cả ba tôn gíáo đã hòa đồng trong tâm thức dân gian, dưới ảnh huởng to lớn của Phật giáo. Thời Mạc, nhiều đình, chùa, quán, đền, miếu, được tu sửa, xây dựng thêm tại nông thôn mà khuôn viên hẳn có cây cảnh, non bộ.Theo gót các triều vua thời Trần và Lê sơ xây dựng kinh đô thứ hai ở quê nhà như Thiên Trường hay Lam kinh, các vua Mạc đã cho xây dựng ở vùng Hải Dương, quê hương của mình, nhiều cung điện, lầu gác cùng với vườn cảnh, cây cảnh, non bộ, và được gọi là Dương kinh. Dương kinh có những cung điện nổi danh như điện Phúc Huy, điện Hưng Quốc. Ngoài ra, Mạc Đăng Dung còn cho xây điện Sùng Đức ngay trên nền nhà cũ của Mạc Đĩnh Chi, ông tổ của mình, ở xã Lũng Động, Chí Linh, nhằm nêu cao truyền thống dòng họ Mạc (49).
Ngoài những công trình của triều đình và các vua chúa, nhiều tầng lớp thống trị và trí thức khác cũng tổ chức xây dựng cho mình những dinh thự, những am quán. Truyện Lý tướng quân trong tác phẩm Truyền Kỳ Mạn Lục viết bằng chữ nho của Nguyễn Dữ (đầu thế kỷ 16) là một thí dụ, truyện kể ông tướng tham bạo Lý Hữu Chi "tậu ruộng vườn, dựng nhiều nhà cửa, khai đào đồng nội để làm ao, dồn đuổi xóm giềng cho rộng đất, đi kiếm những hoa kỳ đá lạ từ bên huyện khác đem về" (50).
Những công trình mang tính chất sinh hoạt của cá nhân này xuất hiện rải rác trong mọi miền mà tiếng tăm và quen thuộc với chúng ta nhất là am Bạch Vân và quán Trung Tân (Hải Dương) của Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm (1491-1585) hoặc trại Bùi Phong (Thanh Hóa), nơi ẩn cư của La Sơn Phu Tử Nguyễn Thiếp (1723-1801), trong bài ký Hạnh Am, Phu Tử viết:
"Sau lúc bỏ học khoa cử, núi sông miền Nam Châu, dấu chân có gần khắp. Thường hay chơi núi Thiên Nhận ở Nam Hà. Phía Đông có núi Lạp Đính, phía Tây có núi Bạch Tượng, khoảng giữa thấy một núi con, tên gọi Bùi Phong. Có ghềnh suối ẩn kín, không hổ báo quấy nhiễu. Núi trồng cây được, khe đánh cá đươc, đất hoang dễ cày, cỏ tốt dễ giữ. Ta mừng thay ".(51).Chán nản trước những rối ren của xã hội, Nguyễn Bỉnh Khiêm sau khi làm quan cho nhà Mạc được tám năm thì rút lui khỏi chính trường trở về quê. Ông đã cho xây dựng ở đây am Bạch Vân và quán Trung Tân để làm nơi dưỡng nhàn, dậy học, và cũng là nơi làm thơ cùng giao tiếp với bạn bè. Tuy những công trình kiến trúc này nhỏ bé vừa phải, không mang tính chất phô trương sự giàu có sang trọng vốn là đặc điểm của kiến trúc cung đình, nhưng câu chuyện về Nguyễn Bỉnh Khiêm cho chúng ta một giai thoại về thú chơi non bộ ở thế kỷ XVI, đồng thời hé mở cho chúng ta biết thêm về một trong những sở thích của sĩ phu đương thời.
Ôn Đình Hầu Vũ Khâm Lân, trong bài tựa viết cho tập gia phả của dòng họ Trạng Trình, đã nói đến thú vui của Nguyễn Bỉnh Khiêm như sau:
Ngoài ra, Tiên sinh còn tu bổ chùa chiền, tiên sinh thường cùng các lão tăng đàm luận, và thường khi thả thuyền dạo chơi Kim-hải hay Úc-hải để xem người đánh cá. Các chỗ danh lam thắng cảnh như An Tử, Ngọa Vân, Kinh Chủ, Đồ Sơn ; nơi nào tiên sinh cũng chống gậy trèo lên, thừa hứng ngâm vịnh, có khi quên cả sớm chiều. Mỗi khi ngắm cảnh non cao chót vót, rừng rậm xanh rờn, gió động rì rào, chim ca thánh thót, tiên sinh lại hớn hở tự đắc, phiêu phiêu như một vị lục địa thần tiên (thần tiên ở thế gian) (52).Một chuyện khác về non bộ:
Nguyễn Hoàng, con trai thứ của Nguyễn Kim, ở trong tình thế nguy ngập sợ không thoát khỏi tay Trịnh Kiểm sát hại, bèn cho sứ giả bí mật về am Bạch Vân nhờ Trạng Trình chỉ giúp một lối sống. Sứ giả cố năn nỉ hỏi, tiên sinh không đáp, chỉ nhìn hòn non bộ trước sân, rồi ngâm lớn:
"Hoành Sơn nhất đái, vạn đại dung thân."Sứ giả về thuật lại, Nguyễn Hoàng hiểu ý, nghĩ ra kế xin vào trấn thủ đất Thuận Hóa vào năm Mậu Ngọ 1558 (53) và kiêm trấn thủ Quảng Nam (năm 1570) để xây dựng lực lượng cát cứ. Vùng Thuận-Quảng từ đó trở thành giang sơn riêng của tập đoàn phong kiến họ Nguyễn. Sau đó, sông Gianh được qui định làm giới tuyến: Bắc-hà (Đàng ngoài) và Nam-hà (Đàng-trong).
(Một giải Hoành Sơn có thể dung thân muôn đời).
Lê Quí Đôn đã tả sự giàu sang, nhà cửa ruộng vườn của giới quan lại ở đàng trong: Từ quan to đến quan nhỏ, nhà cửa chạm trổ, tường xây bằng gạch đá, trướng vóc màn the, đồ dùng toàn bằng đồng, bằng sứ, bàn ghế bằng gỗ đàn, gỗ trắc, ấm chén bằng sứ, yên ngựa dây cương đều nạm vàng nạm bạc, áo quần là lượt, nệm hoa, chiếu mây, lấy phú quí phong lưu để khoe khoang lẫn nhau... họ coi vàng bạc như cát, thóc gạo như bùn, hoang phí vô cùng. (54)
Đàng ngoài, sách Tang Thương Ngẫu Lục có ghi một chuyện liên quan đến một trong những non bộ trong Vương phủ chúa Trịnh như sau:
Đúng hôm rằm (Trung thu), Chúa ngự ra chơi Bắc cung. Cung này có cái ao gọi là Long Trì, rộng độ nửa dặm, giồng nhiều hoa: hoa sen, hoa súng, v.v... Bên bờ ao đắp đất, chồng đá làm núi, chỗ cao chỗ thấp, dàn đặt mặt trước mặt sau, trông đường nào cũng có thế đẹp... Trên bờ ao có giồng mấy trăm gốc phù dung, (55).
Trong một tác phẩm khác, tác giả Phạm Đình Hổ (1768-1829) đã ghi lại thú chơi non bộ của chúa Trịnh đến độ say mê:
Khi ấy phàm bao nhiêu những loài trân-cầm, dị thú, cổ mộc, quái thạch và chậu hoa cây cảnh ở chốn dân gian đều sức thu lấy không thiếu một thứ gì... Trong phủ tùy chỗ điểm xuyết bày vẽ ra hình núi non-bộ trông như bến bể đầu non. Mỗi khi đêm thanh cảnh vắng, tiếng chim kêu vượn hót ran khắp bốn bề, hoặc nửa đêm ồn ào như trận mưa sa gió táp, vỡ tổ tan đàn, (56)Năm 1782, Thượng Hải Lãn Ông Lê Hữu Trác được chúa Trịnh Sâm (1767-1782) triệu ra kinh đô để chữa bệnh cho con là Trịnh Cán ở lầu Tử-các. Ông ghi lại cho chúng ta biết thêm một tài liệu về non bộ nơi Hoàng cung như sau:
Đi được độ vài trăm bước, qua mấy lần cửa ngăn mới đến cái điếm Hậu-mã quân túc-trực, điếm làm ở bên một cái hồ lớn, có những thứ cây lạ lùng và những đá non bộ kỳ-quái, kiểu điếm thì cột với bao-lơn lượn ra ngoắt vào xem có một cách kỳ-xảo (57).Đọc Đoạn Trường Tân Thanh, chúng ta thấy ít nhất ba lần Nguyễn Du đã đề cập đến vườn cảnh, cây cảnh, non bộ ; đây có thể tiêu biểu tính phổ quát, phản ánh tính phát triển rộng lớn thú chơi non bộ nơi các tầng lớp từ vua chúa, quan lại giới quí tộc, thượng lưu đến thứ dân tầm thường thời hậu bán thế kỷ XVIII và tiền bán thế kỷ XIX:
Lần thứ nhất: Trong vườn nơi Kim Trọng trọ học phía sau nhà Thúy Kiều:
Lấy điều du học hỏi thuê.Lần thứ hai: Trong vườn nhà Thúy Kiều, để sang nhà Kim Trọng, Thúy Kiều phải đi vòng theo hòn non bộ này:
Túi đàn, cặp sách, đề huề dọn sang
Có cây, có đá, sẵn sàng.
Có hiên Lãm Thúy, nét vàng chua phai. (58)
Lần theo núi giả đi vòng,Lần thứ ba: Trong vườn nhà Hoạn Thư, khi nàng cho Thúy Kiều ra tu tại Quan Âm các:
Cuối tường dường có nẻo thông mới rào;
Xắn tay mở khóa động đào,
Rẽ mây trong tỏ lối vào Thiên Thai. (59)
Sẵn Quan Âm các vườn ta,Phan Quỳnh
Có cây trăm thước, có hoa bốn mùa,
Có cổ thụ, có sơn hồ,
Cho nàng ra đó, giữ chùa tụng kinh. (60).
Chú thích:
(49) Lê Quí Đôn Toàn Tập, Hà Nội, nxb KHXH, 1978, tập III, trg 265.(50) Nguyễn Dữ, Truyền Kỳ Mạn Lục, Trúc Khê Lê Văn Triện dịch, Hà Nội, nxb Tân Việt, 1952.
(51) Hoàng Xuân Hãn, La Sơn Phu Tử, Paris, Minh Tân, 1952, trg 94-95.
(52) Phạm Đan Quế, Giai thoại và sấm kí Trạng Trình, TPHCM, nxb Văn nghệ, 1992. nxb Đại Việt tại USA in lại, 1994, trg 121-122.
(53) Phan Khoang, Việt Sử: Xứ Đàng Trong 1558-1777, Saigon, 1967, quyển thượng, trg 136-137.
(54) Lê Quý Đôn, Phủ Biên Tạp Lục, bản dịch, Hà Nội, nxb Khoa học, 1964, trg 369.
(55) Phạm Đình Hổ, Nguyễn Án, Tang Thương Ngẫu Lục, Đạm Nguyên dịch, Saigon, Bộ QGGD xb, 1962, quyển nhất, trg 28-29.
(56) Phạm Đình Hổ, Vũ Trung Tùy Bút, Đông Châu dịch, Nam Phong tạp chí, t. XXI, số 121. Dương Quảng Hàm trích in trong Việt Nam Văn Học Sử Yếu, Saigon, Bộ GD Trung tâm học liệu tái bản lần thứ 10, 1968, trg 330-331.
(57) Lê Hữu Trác, Thượng Kinh kỷ sự, Nguyễn Trọng Thuật dịch, Nam Phong tạp chí, t. XII, số 78. Dương Quảng Hàm trích in trong Việt Nam Văn Học Sử Yếu, sđd, trg 315.
(58)(59)(60) Nguyễn Du, Truyện Thúy Kiều (Đoạn Trường Tân Thanh), Bùi Kỷ và Trần Trọng Kim hiệu khảo, in lần thứ bảy, Cơ sở xb Đại Nam in lại tại Hoa Kỳ, trg 72, 78 và 153.