Non bộ trong lịch sử Việt Nam - Phần 7

Năm 1802 Nguyễn Ánh lên ngôi vua, mở đầu cho triều đại nhà Nguyễn, không dùng Thăng Long làm kinh đô mà là Huế.

Nhà Nguyễn củng cố nền thống trị bằng cách tăng cường chế độ chuyên chế. Các vua Nguyễn đã thâu tóm vào tay tất cả mọi quyền hành, không muốn ai chia sẻ hoặc lấn át quyền lực của mình, đặt ra lệ Ngũ bất:
  • Bất lập hoàng hậu
  • Bất lập thái tử
  • Bất phong vương tước
  • Bất cử trạng nguyên
  • Bất thiết tể tướng (61).

Nguyễn triều đã đoạn tuyệt với những truyền thống và tư tưởng luật pháp trước đây, thủ tiêu những định chế tương đối tiến bộ của bộ luật Hồng đức. Hoàng triều luật lệ ban hành năm 1815 (thường gọi là bộ luật Gia Long) thực ra chỉ là bản sao chép gần như nguyên vẹn bộ luật nhà Mãn Thanh bên Trung Quốc.

Tư tưởng giáo điều Nho Giáo giải thích theo lối Tống Nho chủ trương tôn quân triệt để đã có cơ hội thuận tiện để phát triển trở lại, nhất là từ đời Minh Mạng trở đi, vì nhà vua này và những người kế vị ông là những người sùng tín Nho Giáo. Để phổ biến các giáo lý Nho Giáo thuận lợi cho việc củng cố ngai vàng, Minh Mạng đã ban 10 điều huấn dụ bắt nhân dân toàn quốc phải học tập, và đồng thời với tư tưởng vọng ngoại của nhà Nguyễn đã ảnh hưởng nặng nề đến mọi sinh hoạt chính trị, quân sự, kinh tế, xã hội, văn hóa nghệ thuật và đời sống vật chất lẫn tinh thần mọi tầng lớp nhân dân suốt thế kỷ XIX cho đến nay.

Các vua Nguyễn cấm dân thường không được làm nhà kiểu chữ "công" (), chữ "môn" (), không được chọn hình long, ly, quy, phượng ; không được mặc đồ gấm vóc, dùng các màu vàng, tía ; không được dùng các loại gỗ quý... hoặc Huấn điều về việc làm nhà ở thành thị của Minh Mạng sau đây:
  • Dân phường nhà giáp đường quan
  • Không được làm gác trông ngang ra đường
  • Có cần làm chỗ chứa hàng
  • Chiều cao không được cao bằng kiệu quan !

Điều 156 bộ luật Gia Long quy định:
Tất cả nhà cửa, xe cộ, quần áo và tất cả mọi vật dụng của quan chức và thường-dân phải phân biệt rõ rệt. Ai dùng trái phép thì bị tội. Nhà cửa thường-dân không dựng trên một bệ đôi, lợp mái đôi và làm gác. Trong nhà không được sơn phết trang hoàng (62).
Nền văn hóa nghệ thuật đã nẩy bật hai khuynh hướng khác nhau cả về hình thức lẫn nội dung:
  • Khuynh hướng cung đình
  • Khuynh hướng dân gian

Khuynh hướng cung đình

Với ảnh hưởng sâu đậm rất lộ liễu nhà Mãn Thanh và phương Tây, đã đoạn tuyệt hẳn với truyền thống lâu đời của dân tộc. Ví dụ lối kiến trúc cung điện, lầu gác, vườn tược của vua quan và giới quí tộc triều Nguyễn hệt như cung điện, lầu gác, vườn tược bên Trung Quốc hay thành quách ở Huế chỉ là bản sao của thành Vauban bên Pháp. Mỗi lăng miếu của các vua Nguyễn đều là những vườn cảnh với cây, đá, mà bài trí rập khuôn của lối chơi ở các vua quan nhà Mãn Thanh. Hòn non bộ ở Tử Cấm thành, chỗ ăn chơi của vua, nơi chỉ có hoàng gia và các bậc đại thần mới được vào, rõ ràng là kiểu cách Sơn Thủy Bồn Cảnh của Trung quốc, dàn trải đá, cây, chênh vênh chen chúc như núi Kiếm Các, núi Nga Mi với những khoảng cách mà chim bay không lọt. (Những hình tượng trang trí trên non bộ cũng đều đặt mua từ bên Trung Quốc).

Khuynh hướng dân gian

Trong khi khuynh hướng cung đình chỉ tập trung tại kinh đô Huế hay các tỉnh thành thì khuynh hướng dân gian vẫn tiếp tục bảo lưu nơi thôn làng. Riêng về lãnh vực non bộ, khuynh hướng dân gian có hai kiểu cách chế tác

Kiểu cách thứ nhất: tạo dựng lại những danh lam thắng cảnh, núi, sông, hang động, thác ghềnh nổi tiếng ở Việt Nam, như vịnh Hạ Long, Hòn Gà Chọi, Hòn Chồng, Hồ Ba Bể, Bích Động, núi chùa Non Nước, Hòn Vọng Phu, Tô Thị, v.v...

Kiểu cách thứ hai: sáng tạo các dạng lạ của phong cảnh theo trí tưởng tượng hoặc theo thần thoại, các sự tích tôn giáo, các hình thể mỹ thuật theo qui ước cổ điển, các dạng linh vật như Thiềm thử quá hái, Mãnh hổ khai địa, Phượng hoàng đảo dực, Sư tử hí cầu, Hoàng hạc hạ sơn (một sơn thể), Long phụng giao đầu, Lưỡng long tranh châu, Phụ tử tình thâm, Mẫu tử tình thâm, Đồng tử bái Quan Âm (hai sơn thể), Thiên dịa nhân, Tam Cương (ba sơn thể), Tứ quí (bốn sơn thể), Ngũ hành, Ngũ thường, Ngũ nhạc (năm sơn thể), Thất hiền (bảy sơn thể), Bát tiên (tám sơn thể), Quần lập (nhiều sơn thể), v.v....

Lối chơi cây cảnh trong dân gian dưới triều Nguyễn cũng bị hạn chế:
  • Hoàng đế được quyền chơi cây thông
  • Tước Vương được phép chơi cây trắc bá
  • Bậc Đại thần được phép chơi cây loan dương, cây bồ hòn.
  • Nho sĩ trí thức được phép chơi cây keo, cây du, cây si
  • Dân dã được phép chơi cây dương liễu, hoặc các cây sim, me, tràm, chổi ; ngọn cây phải uốn chúc xuống, gọi là hồi đầu, cây cảnh không được để ngọn chĩa thẳng lên trời, sợ phạm thượng.

Chế tác non bộ phải tuân hành theo luật Năm không:
  • Không xuyên tâm
  • Không xẻ đầu
  • Không phản chủ
  • Không triệt bộ
  • Không vô lý

Không xuyên tâm

Điều cấm kỵ là để một lỗ xuyên từ bên này qua bên kia thân hòn non bộ, không ai dám tạo ra, nếu có sẵn trong tự nhiên cũng không được đụng đến giống như người có biệt tài song lại có tật.

Không phản chủ

Là phải có hòn chủ to cao, dứt khoát, giữ vai trò sinh mệnh của hòn non bộ - phân biệt rõ chủ khách...

Không cắt đầu

Là hòn núi chính, phải có phong thức là cao phong, không bị cắt bằng ngang đầu nhưng cũng không nên để tiêm đầu là đầu nhọn quắc không đẹp làm sao cho ngọn núi phải nhấp nhô, không nhọn, không bằng, tự nhiên mới đẹp.

Không triệt bộ

Là phải có đường nhỏ để đi - hợp tình hợp lý chớ không bị dẫn đến đường cùng không có lối thoát...

Không vô lý

Là gắn nhà cửa, người, thú phải đúng tỷ lệ, không để mục đồng chăn trâu và ngư ông ngồi câu cá trên đỉnh núi, không để con dê, con trừu kế bên con beo, con hổ...

Tóm lại phải thực tế, giống khung cảnh của thiên nhiên, trái ngược lại quy luật tự nhiên là không đẹp (63).

Các thể núi chính gồm: Thế cao phong, thế huyền nham, thế bích lập, thế viễn sơn, v.v...

Thế cao phong

Ngọn cao vút, đầu núi hơn tròn để tránh vẻ khiêm tốn và thể hiện một hòn núi già cổ kính. Thân núi hơi phình to, tròn có ít hang hốc, cây cỏ lưa thưa và nên có một cây nhỏ thế huyền hay hoành ở gần dỉnh hay ngang lưng. Chân núi hơi thót vào, dưới chân núi có nhà, đình, tháp, người và vật, cây cối. Núi thường dược đặt cao tầm mặt người xem tạo cho hòn non bộ càng có vẻ cao vút len mà vẫn rất vững chãi.

Thế huyền nham

Thế này cũng có một ngọn trông cao vút, chân vững vàng nhưng thế núi như treo, trong thế đổ gục. Trên ngọn có thể đặt đình tạ và một cây có thế huyền hay hoành để như ấn thêm ngọn núi xuống.

Thế bích lập

Thế núi có một mặt phẳng đứng như tường vách, cũng chỉ cần một ngọn, chân núi vững chắc có thể thót vào ở một phía. Cây cối, bể cạn, vị trí đặt bể gần giống như thế cao phong.

Thế viễn sơn

Gồm nhiều hòn núi xếp lô xô cao thấp, thoải dần từ tâm ra xa, có làn nước uốn lượn giữa các chân núi. Núi đặt dưới thấp hơn tầm mắt để khi nhìn dễ cảm thấy như một vùng trời nước bao la.

Ngày xưa, các cụ thường chơi thế núi Viễn sơn, cho thế Cao phong là ngạo mạn, thiếu khiêm tốn. Nó chỉ được tạo ra bởi những người có chí ngang tàng, bất khuất. Thế núi huyền nham thường bị kiêng bởi sợ vận vào chủ của nó sự đổ bể không hay.

Phan Quỳnh

Chú thích:

(61) Nguyễn Ngọc Huy, Quốc Triều Hình Luật, quyển A, USA, Việt Publisher Thư Quán, 1989, trg 120.
(62) Toan Ánh, Nếp cũ: Con người Việt Nam, Saigon, Nam Chi Tùng Thư, 1965, trg 266.
(63) Huỳnh Văn Thới, Kiểng cổ - Chậu xưa, TPHCM, nxb Trẻ, 1995,trg 100.