Non bộ trong lịch sử Việt Nam - Phần 8
Để tạm chấm dứt bài viết này, xin kể lại thú say mê chơi non bộ được mô tả bởi một vài tác giả:Cái bí quyết kỳ lạ gì mà làm được cho những cây tùng, cây bách, cây chuối, cây liễu, cây đa, cây đào, cây mận, cây tre,... lớn là thế mà rồi trên hòn non bộ, nó chỉ còn chừng độ vài gang tay và rồi cũng có hoa quả, cũng cành lá mầu sắc ấy, hình thù ấy nhưng nhỏ đi theo với sự nhỏ của thân cây?
Có người kể lại là người ta đã phải lấy những hột giống choắt choeo của những cây đã cằn cỗi để gieo. rồi người ta đã phải cắt những rễ cái đi chỉ để cho rễ con hút nhựa sống, trong khi giam cây vào chỗ thật là chật hẹp và thiểu giảm hết sức những phân bón cho cây. Ta hãy tưởng tượng cây nhỏ như thế, mà trong khi mới mọc nữa, thì rễ cái nó bằng bao nhiêu và rễ con của nó bằng bao nhiêu, để lách mũi dao lại bằng bao nhiêu nữa vào mà tỉa gọt ! Nhưng công việc không phải đã chỉ có thế. Còn phải làm sao cho thân cây thắt lại, khẳng khiu đi, hoặc là bằng cách lấy dây thắt lại, hoặc là vặn thân cây đi, để bắt nhựa cây phải chạy chậm lại và bắt nó phải dẫn đi dài dòng hơn. Lại phải làm sao cho thân cây bật ra những cái bướu kỳ dị bằng cách tỉa gọt dần, bằng cách kẹp phía này cho phía kia nẩy chồi ra, bằng cách cắt xén, buộc dây đeo đá nặng vào để kéo vít cành xuống.
Thật là những công phu đáng kinh sợ.
Nhưng việc lựa cục đá để làm hòn non cho cây cối ấy mọc lên lại còn công phu đáng sợ hơn nữa. Không phải đá nào cũng dùng được. Nó phải là thứ đá rắn, nhưng mà sốp, thứ đá có lỗ nhỏ li ti như lỗ chân lông người ta để hút được nước ở dưới bể cạn lên cho đá lúc nào cũng ẩm ướt mà nuôi cây và có chỗ cho rễ cây đâm vào hút nước. Đá lại phải có hình thù của một cái gì hay của một con vật gì. Hình thù tự nhiên thì hay lắm ; mà hình thù gần gần giống để cho người đẽo gọt thêm chú ít rồi trồng thêm cây vào cho thành thế núi thì cũng hay.
Thường người ta đã phải mầy mò tìm kiếm không biết mất bao nhiêu thì giờ ở các hang động để lấy các nhũ đá, rồi nhìn ngắm, rồi tưởng tượng, mãi mãi mới có thể quyết định được là đặt cưa vào cắt theo chiều thẳng này hay chiều nghiêng kia. Để rồi khi đem về đến nhà, lại nhìn ngắm, lại tưởng tượng cho cây này mọc ở chỗ nào, cây kia uốn mình ở chỗ nào, ra hoa ở chỗ nào,cao đến độ nào, để toàn thể cả cây lẫn núi thành một hình thù mà mình muốn có.
Đúng y như một ông Tạo Hóa con, để hết tất cả tinh thần tâm trí vào tạo một vưu vật mà gần như đã truyền cả hồn của mình vào đó vậy.
Những hình thù này theo lời kể lại của nhà khảo cổ R. Stein (1) người ta đã đếm ra có đến trên 30 thứ. Và những cây nhỏ để trồng trên hòn non người ta cũng đếm được 68 thứ.
Đựng trước những hòn non bộ như vậy, khi thì là hình con rồng, con phượng, con rùa, con long mã, khi thì là hình con cá, con cọp, hình người, hình mẹ bồng con, hình anh em v.v.... người ta cảm thấy lý thú lạ lùng. Nhưng có một sự thực ai cũng nhận ra được ngay là: người có tiền bỏ ra mua được một hòn non ấy về mà nhìn ngắm hàng ngày, thì cái thú cũng chỉ thú một phần về tính cách kỳ lạ và quý giá của nó. Còn chính người làm ra hòn non ấy từ đầu chí cuối, hàng ngày hàng giờ, hết năm này qua tháng khác, bên cạnh nó và săn sóc cho nó thì cái thú mới kể là vô cùng nữa.
Đó là cái thú thoát tục, cái thú quên những phiền muộn của cuộc sống hiện tại, quên những ràng buộc vật chất và tinh thần để thả hồn phiêu diêu vào những khe vách đá, vào những dòng suối mát, vào những bóng dâm, vào những cầu quán, những hang động... Tóm lại, là cái thú của những người đã lăn lóc với cuộc sống, đã đầy đủ bổn phận với gia đình và xã hội, và bây giờ đến lúc già về hưu, thì mượn nó làm phương tiện để xuất thần, coi như giải quyết một cần dùng của người chơi văn nghệ vậy.
Đã có những cụ già đứng trước những cây tùng của hòn non thân bằng cổ tay, lá bằng mũi kim, vào giữa mùa nắng tháng 6 mà nói rằng thấy mát cả người, như đã bước chân vào rừng tùng vậy.
Lại đã có những cụ đứng trước những bụi cỏ tranh của hòn non giữa mùa đông lạnh lẽo với những nụ đào nụ mai trên sườn non mà nói là có thể quên được cả ăn.
Ta có thể tưởng tượng cái thú ấy đã làm say người ngư thế nào ! Say đến nỗi không cần biết đến ngày giờ trôi qua. Say đến nỗi đôi bạn tri kỷ cứ uống rượu ngắm cảnh có khi không nói với nhau lấy một tiếng, tuồng như quên cả người ngồi trước mặt mình.
Cái say ấy đã khiến người ta không ngại tốn kém, nghe thấy đâu có hòn non đẹp và lạ là phải lần tới xem nếu hỏi mua không được. Nhiều những vị quan chức khi sắp về hưu, được dịp qua Tầu thông sứ hoặc làm gì đó, đã nhân tiện chuốc về những đá kỳ lạ và hiếm để làm hòn non.
Có khi những hòn non này rất lớn, cao đến hai ba thước, cũng có khi nó chỉ nhỏ độ một vài gang. Nhưng không thể căn cứ vào lớn nhỏ mà luận về sự quý giá của nó. Nhiều khi nhỏ mà toàn thể là một cục long não, hoặc là một hình hết sức đẹp bầy trên án thư của nhà ẩn sĩ, để những khi nhà ẩn sĩ mở sách thánh hiền ra đọc và đốt một đỉnh hương trầm cho khói tỏa lên núi như những làn mây, thì dẫu người trần mắt thịt đến đâu cũng phải thấy ngay một vẻ gì là tiên phong đạo cốt.
Cũng những núi đá ấy, người ta đã có thể lợi dụng được cả những hang hốc của nó để đặt đỉnh hương trầm vào trong, cho khói thơm bay ra ngào ngạt ở các khe các lỗ, như những làn khói lam chiều trên các mái lá ở sườn non. Người ta quả đã yêu thiên nhiên lắm, và quả đã muốn nhập một cái thiên nhiên thì mới tìm ra được cách chơi tế nhị và đầy thi vị ấy.
Cho nên, kể từ bậc nho sĩ trở lên đến các bậc vua chúa, ai cũng có thú chơi này, gần như là một sự dua nhau theo cho kịp một cách biểu thị của thời thượng, của hàng thượng lưu trong xã hội, khiến ảnh hưởng đến dân chúng và dân chúng rồi cũng đua theo đó mà chơi. Và khiến cho vì đó mà thành một cái luật để chỉ trông vào bể và non bộ cũng đã nhận biết được ngay đó là của bậc vua chúa, bậc đại thần, hay đó là của những nho sĩ, những dân dã (64).
Trong sách Đất Lề Quê Thói, tác giả Nhất Thanh đã nói về non bộ đầu thế kỷ XX như sau:
Dưới giàn hoa là hòn non bộ trong bể nước thả cá vàng. những hòn núi tìm kiếm được nguyên vẹn là quí nhất, nhưng rất hiếm ; người ta thường chắp nối nhiều miếng đá hoặc đắp cả hòn núi nhỏ với hình thể theo ý muốn. Trên non bộ có tháp có chùa, có lối đăng sơn, cầu bắc qua khe suối, đá núi rêu phong, cỏ cây vui mắt ; có khi là bàn cờ với hai ba ông tiên dưới gốc cổ thụ ; có khi là hoạt cảnh những người câu cá, kiếm củi, cầy ruộng, đọc sách (Ngư, tiều, canh, độc). Những tượng hình chùa, tháp, cầu, quán, người ngựa, có bán sẵn bằng sành, bằng sứ, đủ màu đủ cỡ do nguời Tàu đem sang ; nhiều tượng người, đầu không bằng hạt đậu xanh mà cũng đủ râu mày mắt mũi với vẻ say sưa la đà bên hồ rượu, hay với vẻ chăm chú dồn hết tinh thần vào cuộc cờ trên phiến đá, hay với dáng điệu thảnh thơi ngẩng nhìn trời mây quên hết việc đời.Đối cảnh sinh tình, nhà thơ Nguyễn Khuyến đã xót lòng vì nước vì non, nặng lời trách hỏi một tượng sành trên non bộ của ông:
Đêm ngày gìn giữ cho ai đó?Ngày nay thỉnh thoảng cũng có thấy núi giả đôi khi cao đến bảy tám thước tây hoặc hơn, chồng đắp bằng những tảng đá lớn có hang hốc, hình thế quanh co, ngọn lởm chởm, bầy vào bể lớn xây nông giữa vườn, hoặc trong hồ sâu trồng sen, có nhà thủy tọa, cảnh trí mường tượng như được gần với thiên nhiên, dù trong muôn một... Nhưng đa số người thích chơi không có hoàn cảnh tạo lập được như vậy, thì cũng cố gắng có một hòn non bộ, cũng đủ cỏ cây cầu quán, trông thật là kỳ thú, để những lúc nhàn rỗi ngồi ngắm cảnh như tìm cách nhích gần lại tạo vật để cố quên lãng những ưu tư phiền bận. (40).
Non nước đầy vơi có biết không?
Phan Quỳnh
Chú thích:
(1) Lê Văn Siêu, Văn Minh Việt Nam, Saigon, nxb Nam Chi Tùng Thư, 1964, trg 315-316.(40) Trần Quang Triều đã cùng Nguyễn Xương, Nguyễn Úc và các bạn bè khác của ông lập ra phái thơ Bích Động Thi Xã. Họ cho dựng am Bích Động tại chùa Quỳnh Lâm để cùng nhau ngâm vịnh tại đây.
(64) Lê Văn Siêu, Văn Minh Việt Nam, sđd, trg 312-315.
(65) Nhất Thanh, Đất Lề Quê Thói (Phong-tục Việt-nam), Saigon, 1968, Sống Mới in lại tại Hoa Kỳ, trg 245-246.